SƠN LA -
MỘT VÙNG ĐẤT LỊCH SỬ VÀ VĂN HOÁ
LTS: Trải qua bao thăng trầm
lịch sử cùng với sự hình thành và phát triển của
tỉnh, đã tạo nên cộng đồng các dân tộc Sơn La chung
sống đoàn kết. Cho đến hôm nay, 12 dân tộc anh em ở
Sơn La, mỗi dân tộc có tiếng nói, phong tục tập quán
riêng, tạo nên sự phong phú, đa dạng trong sự thống
nhất các nét văn hóa đó luôn được trân trọng, giữ
gìn và phát huy. Toà soạn xin giới thiệu vài nét về
vẻ đẹp văn hoá của từng dân tộc.
DÂN TỘC THÁI
Dân tộc Thái là cộng đồng đông nhất ở Sơn La, chiếm
54% dân số, gồm các nhóm Tay Đăm (Thái đen) và Tay
Khao (Thái trắng). Ngôn ngữ tiếng Thái thuộc nhóm
ngôn ngữ Tày- Thái.
 |
|
Điệu múa của các cô gái Thái |
|
|
Trang phục đồng bào Thái: Nam giới mặc âu phục, vải
thổ cẩm. Phụ nữ mặc áo cóm, váy, khăn piêu, với lối
trang sức truyền thống riêng rất đặc sắc. Người Thái
ở nhà sàn, mỗi bản có từ 40- 60 nóc nhà kề bên nhau.
Bản của người Thái thường ở vùng thấp, gần nguồn
nước, gắn với sản xuất ruộng nước.
Đồng bào Thái có đời sống văn hoá rất đặc sắc, có
tiếng nói, chữ viết riêng. Trong kho tàng văn hoá,
đồng bào Thái có thần thoại, cổ tích, truyền thuyết,
truyện thơ, ca dao là vốn văn học cổ truyền nổi
tiếng, với các tác phẩm “Xống chụ xon xao, Khu lú
Nàng ủa”... Đồng bào Thái rất ưa ca hát, múa xoè,
đặc biệt Khắp là lối ngâm thơ, hát theo lời thơ, có
đệm đàn và múa. Nhiều điệu múa xoè, múa sạp của đồng
bào Thái nổi tiếng khắp cả nước và thế giới, được
đoàn nghệ thuật đưa thành bài học múa cơ bản.
DÂN TỘC MÔNG
 |
Dân tộc Mông ở Sơn La sinh sống hầu khắp các địa bàn,
thường ở trên các triền núi cao. Đồng bào Mông chiếm
12% dân số toàn tỉnh. Đồng bào Mông có nhiều nhóm,
gồm Mông Đơ (Mông trắng), Mông Lềnh (Mông Hoa), Mông
Đu (Mông đen). Tiếng Mông thuộc nhóm ngôn ngữ Mông -
Dao. |
Nguồn sống chính của đồng bào Mông là làm nương rẫy,
trồng ngô, lúa ở một số nơi đồng bào Mông biết làm
ruộng bậc thang. Ngoài ra, đồng bào trồng lanh để
lấy sợi, dệt vải và trồng cây dược liệu.
Quần áo của đồng bào Mông chủ yếu may bằng vải lanh
tự dệt. Một bộ y phục phụ nữ Mông gồm có: Váy, áo xẻ
ngực, tạp dề trước và sau, xà cạp quấn chân. Váy may
và trang trí nhiều hoa văn rất công phu, là váy mở
xếp, nếp xoè rộng.
Đồng bào dân tộc Mông cho rằng những người cùng dòng
họ là anh em cùng tổ tiên, có thể ở trong nhà nhau
và chết trong nhà nhau, phải luôn giúp đỡ nhau trong
cuộc sống, cưu mang lúc nguy nan và tính tự trọng,
gắn kết cộng đồng rất cao. Hôn nhân của dân tộc Mông
theo tập quán kén chọn bạn đời, những người cùng
dòng họ không được lấy nhau, đặc biệt vợ chồng dân
tộc Mông đã lấy nhau rất ít bỏ nhau mà yêu thương
hoà thuận. Nhạc cụ của dân tộc Mông có nhiều loại,
nhưng phổ biến là khèn và đàn môi.
Sơn La, ngày Tết độc lập 2-9, đồng bào Mông khắp nơi
thường kéo về vui chơi ở huyện Mộc Châu, hình thành
một tập tục rất đặc sắc, đó là một ngày hội lớn của
đồng bào Mông cần được khuyến khích, duy trì.
DÂN TỘC KINH
Dân tộc Kinh còn gọi là người Việt, ở Sơn La là nhóm
đông thứ hai, chiếm 18% dân số toàn tỉnh. Dân cư tập
trung ở các khu đô thị, thị tứ. Tiếng Kinh thuộc
ngôn ngữ Việt - Mường.
Ngoài bộ phận đồng bào kinh cư trú tại địa bàn Sơn
La từ xa xưa, nhiều người mới chuyển đến từ đồng
bằng Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ. Nhất là từ khi nghe theo
tiếng gọi của Đảng xây dựng phát triển kinh tế miền
núi, đồng bào Kinh từ các tỉnh đồng bằng lên Sơn La;
gia đình của bộ đội tham gia chiến dịch Điện Biên
Phủ ở lại xây dựng miền núi khá đông. Hiện nay, một
số vùng trong tỉnh đông đồng bào Kinh sinh sống, gồm
đồng bào Kinh tỉnh Hải Hưng ở khu vực huyện Sông Mã,
Yên Châu; tỉnh Thái Bình ở Thuận Châu, tỉnh Hà Tây ở
Mai Sơn v.v.
Đồng bào Kinh ở Sơn La sinh sống xen kẽ với đồng bào
các dân tộc, đã nhanh chóng hoà nhập trong lao động
sản xuất, giao lưu văn hoá, đoàn kết tạo ra sự gắn
kết, hoà nhập cùng phát triển trên mảnh đất Sơn La.
DÂN TỘC MƯỜNG
Dân tộc Mường ở tỉnh ta là bộ phận dân tộc đông thứ
tư, chiếm 8,4% dân số, cư trú chủ yếu ở vùng Phù Yên,
Bắc Yên, Mộc Châu. Người Mường có tên gọi MoJ, Mual,
Moi. Tiếng Mường thuộc nhóm ngôn ngữ Việt- Mường.
Người Mường thờ cúng tổ tiên và tin vào đa thần giáo.
Đồng bào Mường định cư ở nơi có nhiều đất sản xuất,
gần đường giao thông và có nghề làm ruộng lâu đời.
Nghề thủ công tiêu biểu của dân tộc Mường là dệt vải,
đan lát, ươm tơ. Phụ nữ Mường dệt thủ công kỹ nghệ
khá tinh xảo. Trang phục nam giới Mường là quần áo
cánh màu chàm. Phụ nữ đội khăn trắng hình chữ nhật,
mặc yếm và áo cánh ngắn, thân cổ, xẻ ngực (có nơi xẻ
vai), ít cài cúc. Váy của phụ nữ Mường khá dài được
dệt bằng tơ, nhuộm màu, tạo những hoa văn hình học
và hình con rồng, phượng, hươu, chim rất đẹp.
Đồng bào Mường có nhiều ngày lễ hội hàng năm: Hội
xuống đồng (khuống mùa), hội cầu mưa (tháng 4), lễ
rửa lá, lễ cơm mới v.v. Kho tàng văn nghệ dân gian
của dân tộc Mường khá phong phú, có các thể loại:
Thơ dài, bài mo, truyện cổ, dân ca, đồng dao, tục
ngữ. Cồng là nhạc cụ rất đặc sắc của đồng bào Mường.
Ngoài ra, còn có nhị, sáo, trống, khèn, tù.
DÂN TỘC DAO
Dân tộc Dao ở Sơn La quần cư chủ yếu ở các huyện Phù
Yên, Mộc Châu, Yên Châu, Bắc Yên. Dân tộc Dao ở Sơn
La chiếm 2,5% dân số. Ngôn ngữ thuộc nhóm Mông- Dao,
các nhóm Dao đều thờ tổ tiên là họ Bàn Hồ. Đồng bào
Dao sống chủ yếu bằng nghề trồng lúa nương và ruộng
nước. Nông cụ sản xuất thô sơ, nhưng canh tác có
nhiều tiến bộ. Một số nghề thủ công phát triển như:
Dệt vải, rèn, mộc, ép dầu.
Đàn ông Dao để tóc dài, búi sau gáy, hoặc để chỏm
trên đỉnh đầu, nay hầu hết đã cắt tóc ngắn. Y phục
thường gồm quần và áo dài, áo ngắn. Trang phục phụ
nữ phong phú hơn, giữ nhiều nét trang trí hoa văn
truyền thống. Phụ nữ Dao để tóc dài. Cô dâu ngày
cưới đội mũ. Dưới chế độ cũ, lễ cưới gồm nhiều nghi
thức phức tạp.
Dân tộc Dao có nền văn hoá và lịch sử lâu đời. Mặc
dù điều kiện, cơ sở kinh tế thấp kém, nhưng đời sống
văn hóa dân gian rất phong phú, đặc biệt là y phục
dân tộc cổ truyền. Đồng bào Dao không có văn tự
riêng mà sử dụng chữ Hán đã được Dao hoá gọi là chữ
Nàm Dao. Người Dao có quan hệ họ hàng chặt chẽ và
thông qua tên đệm để xác định dòng họ, vai vế của
người đó trong quan hệ họ hàng.
DÂN TỘC TÀY
Dân tộc Tày là cộng đồng thuộc nhóm ngôn ngữ Tày -
Thái. ở tỉnh ta dân tộc Tày số lượng không nhiều.
Dân tộc Tày còn có tên gọi là Thổ. Phần đông người
Tày cư trú ven các thung lũng, triền núi thấp.
Người Tày có một nền nông nghiệp cổ truyền khá phát
triển, với đủ loại cây trồng, như: Lúa, ngô, khoai,
rau quả. Bản của đồng bào Tày thường ở ven suối,
triền núi từ 15- 20 nóc nhà. Tên bản thường gọi theo
tên đồi núi, ruộng đồng, khúc suối. Trong nhà phân
biệt phòng nam ở ngoài, phòng nữ ở trong. Người Tày
mặc quần áo vải bông nhuộm chàm, áo phụ nữ dài đến
bắp chân, ống tay hẹp, xẻ nách ở bên phải, cài 5
khuy.
Thờ cúng tổ tiên là nghi lễ hàng đầu của người Tày.
Nơi thờ tổ tiên ở vị trí trung tâm, tôn nghiêm nhất
trong nhà. Dân tộc Tày có một nền văn nghệ cổ truyền
phong phú, đủ các thể loại: Thơ, ca, múa, nhạc, có
cả múa rối.
Người Tày mến khách, cởi mở, dễ gần, thích nói
chuyện. Họ rất trọng những người cùng tuổi, khi đã
kết nghĩa bạn bè thì coi như anh em ruột thịt.
DÂN TỘC XINH MUN
Dân tộc Xinh Mun ở tỉnh ta chia làm 2 nhóm Xinh Mun
nghẹt và Xinh Mun dạ, cư trú chủ yếu ở vùng biên
giới Việt- Lào thuộc huyện Yên Châu. Ngoài ra, còn
có một số sống rải rác ở các huyện Mai Sơn, Thuận
Châu, Mường La. Người Xinh Mun còn có tên gọi là
Puộc, Pụa. Tiếng Xinh Mun thuộc nhóm ngôn ngữ Môn-
Khơ Mer.
Người Xinh Mun sống chủ yếu bằng nghề làm nương rẫy,
theo lối trọc lỗ bỏ hạt. Người Xinh Mun xưa kia sinh
sống nhờ hái lượm và săn bắn. Nghề đan lát khá phát
triển, đồ đan đẹp và bền. Đồng bào Xinh Mun thường
đan lát cho người Thái, người Lào để lấy quần áo mặc.
Trước kia người Xinh Mun sống du canh du cư, nay
đồng bào đã ổn định, lập bản đông đúc. Đồng bào ở
nhà sàn, mái hình mai rùa, có hai thang lên xuống ở
hai đầu. Người Xinh Mun thường mang họ Lò và họ Vi.
Các hình thức sinh hoạt văn hoá như thờ tổ tiên, sảy
típ, mạ ma mang đậm cốt cách dân tộc Xinh Mun.
DÂN TỘC LA HA
ở nước ta, dân tộc La Ha cư trú tại Sơn La và Lào
Cai. Đồng bào có tên gọi là Xá, Puộc, Xá Khao, Pụa,
Khlá, PLạo. Tiếng La Ha thuộc nhóm ngôn ngữ Ka đai.
Hiện nay ở tỉnh ta người La Ha cơ trú đông nhất ở
Thuận Châu và Mường La.
Dân tộc La La sống chủ yếu bằng nghề nương rẫy, theo
lối du canh, hái lượm, săn bắn và đánh bắt cá. Ngày
nay, nhiều nơi đồng bào đã làm ruộng, quần tụ thành
bản với vài chục nóc nhà.
Người La Ha không dệt vải mà chỉ trồng bông đem đổi
với người Thái để lấy quần áo mặc nên giống người
Thái đen. Hàng năm vào mùa hoa Ban nhà nhà đều làm
lễ tạ ơn cha mẹ.
DÂN TỘC KHÁNG
Dân tộc Kháng thuộc nhóm người dân tộc thiểu số ở
Sơn La, cư trú ở các huyện Thuận Châu, Quỳnh Nhai,
Mường La. Dân tộc Kháng còn có tên gọi khác là: Xá
Khao, Xá Xúa, Xá Đôn, Xá Dâng, Xá Hộc, Xá ái, Xá
Bung. Tiếng Kháng thuộc nhóm ngôn ngữ Môn- Khơ mer.
Người Kháng canh tác theo lối làm nương rẫy chọc lỗ
bỏ hạt, trồng lúa nếp. Trang phục phụ nữ Kháng giống
phụ nữ Thái, nhuộm răng đen, ăn trầu. Người Kháng ở
nhà sàn có 3 gian, 2 trái, mái mai rùa. Theo phong
tục, người chết được chôn cất rất chu đáo, trên mộ
có nhà mồ. Người Kháng quan niệm mỗi người có 5 hồn.
Bố mẹ chết được thờ trên tấm phên ở góc nhà, đó là
ma nhà. Hàng năm dân bản cúng ma trời và ma đất 1
lần.
DÂN TỘC LÀO
Dân tộc Lào ở Sơn La thuộc nhóm Lào cạn, đồng bào cư
trú chủ yếu ở huyện Sông Mã, Thuận Châu. Tiếng Lào
thuộc ngôn ngữ Tày- Thái, người Lào thờ tổ tiên,
chịu ảnh hưởng của đạo phật.
Phụ nữ Lào nổi tiếng khéo tay dệt vải. Họ mặc váy
đen quấn cao đến ngực, gấu váy thêu hoa văn rực rỡ;
áo ngắn bó lấy thân với hàng khuy bạc; tay ưa đeo
nhiều vòng.
Trong vốn văn nghệ dân gian, người Lào có điệu múa
lăm vông và các làn điệu dân ca nổi tiếng.
DÂN TỘC HOA
Dân tộc Hoa còn gọi là Hán, gồm những nhóm khác biệt
nhau nhất định về tiếng nói, tên gọi, lịch sử di cư.
Đồng bào Hoa ở tỉnh ta hiện nay không nhiều, cư trú
chủ yếu ở các thị trấn, thị xã, làm nghề buôn bán
nhỏ, mở hàng ăn.
Trong gia đình người Hoa, chồng là chủ hộ; cha mẹ là
người quyết định hôn nhân cho con cái. Người Hoa
thích “Sơn ca” (san của), ca kịch; ngày tết thường
biểu diễn múa sư tử, múa quyền thuật và nhiều phong
tục dân gian đặc sắc.
DÂN TỘC KHƠ MÚ
Dân tộc Khơ Mú thuộc nhóm dân tộc thiểu số ở tỉnh
ta, đồng bào cư trú chủ yếu ở các huyện Yên Châu,
Mai Sơn, Thuận Châu, Mường La, Quỳnh Nhai, Sông Mã.
Tên gọi khác của đồng bào Khơ Mú còn gọi là Xá Cẩu,
Nứa Xen, Pu Thành, Tày Hạy. Tiếng Khơ Mú thuộc nhóm
ngôn ngữ Môn- Khơ mer.
Người Khơ Mú sống chủ yếu bằng nghề nương rẫy, hái
lượm giữ vị trí quan trọng. Người Khơ Mú không phát
triển nghề dệt vải mà mua, trao đổi quần áo của
người Thái để mặc. Sắc thái người Khơ Mú qua trang
phục đã bị mai một, tuy nhiên trang phục của người
phụ nữ Khơ Mú còn khá rõ và riêng biệt.
Họ của người Khơ Mú thường mang tên một loài thú,
một loại chim - mỗi dòng họ có một huyền thoại. Dân
tộc Khơ Mú tuy cuộc sống vật chất nghèo khó, nhưng
đời sống tinh thần và văn hoá lại khá dồi dào, tiêu
biểu là các điệu xoè, Tăng bu, công tấp, áu eo .
|