Nắng vàng rười rượi, một chút gió se lạnh. Dòng sông Ðông Thuận như dải lụa dài gợn sóng lăn tăn êm ả, những chuyến đò đưa trẻ học trò sang sông trên mặt nước quyện đục phù sa trở nên thơ mộng. Một bức tranh lung linh, huyền ảo đầy sức sống vươn lên. Dòng sông đã đi về trong nỗi nhớ của chúng ta, còn đối với bà Mai Thị Kháng thường gọi bà Tám Nhọn ở ấp Ðông Thạnh, Ðông Thuận (Ô Môn, Cần Thơ) dòng sông Ðông Thuận đã đi vào máu thịt của đời bà. Cũng đúng thôi, hơn hai mươi năm qua bà làm cái nghề đưa rước học sinh cùng thầy cô qua lại trên sông "không lấy tiền".
Có lẽ đó cũng là chuyện bình thường của một người đã từng đưa đò cho cán bộ trong thời kỳ khốc liệt chiến tranh, đã từng đối diện giữa sự sống và cái chết trong đường tơ kẽ tóc như bà.
Ở tuổi "cổ lai hi", bà Kháng vẫn còn mạnh khỏe, gương mặt phúc hậu, nước da ngăm đen vì dạn dày mưa nắng. Bà thân mật trò chuyện cùng chúng tôi, câu chuyện cả cuộc đời bà cứ trôi như một tạp bút tản mạn không chủ đề, như một tâm sự chân thật, vui buồn lẫn lộn. "... Dì sinh ra ở một vùng quê nghèo, tay lấm chân bùn mà chẳng đủ ăn, sống đời cơ cực làm thân ở mướn cho cường hào, địa chủ. Song dì cũng như bà con yêu quê hương vô cùng bởi sức sống vươn lên mãnh liệt của một làng quê giàu truyền thống cách mạng, người quê chân chất, hiền lành mà chung tình chung nghĩa...". Năm mười bảy, bà đứng trong hàng ngũ nữ du kích ở Rạch Giá, được giao nhiệm vụ đưa đò cho cán bộ công tác, có những lúc nguy nan, bà cùng các chiến sĩ bỏ xuồng vượt sông, bảo toàn bí mật và tính mạng. Ðiều bà sung sướng nhất là hoàn thành nhiệm vụ cao quý cấp trên giao phó. Năm hai hai tuổi bà lấy chồng, chồng của bà công tác đơn vị chủ lực miền rồi bị bắt, tù đày tra tấn đến chết. Ðể lại cho bà gánh nặng và cam go nuôi con trong năm tháng chiến tranh ác liệt.
Khi quê hương hoàn toàn giải phóng, vùng quê của bà còn rất nhiều khó khăn. Người dân lam lũ, đường quê chưa thông thoáng, đò giang cách trở. Từ nỗi trăn trở, bức xúc của xóm làng về việc đi lại học hành của con em, bà đã làm người lái đò đưa học sinh đến lớp. Tóc vàng cháy, đôi tay gầy trải dài, bóng của bà nghiêng xiêu, gãy khúc trên dòng sông chỉ một việc tự nguyện đưa rước học trò và thầy cô sang sông kể từ năm 1984 đến nay. Hơn hai mươi năm chờ đợi chiếc cầu bắc qua sông chưa thấy, đưa đón mãi, bà trở thành người lái đò chuyên nghiệp lúc nào không hay. Với nụ cười hiền hậu, nói năng nhỏ nhẹ, hăng say, nhiệt tình với công việc, chưa bao giờ bà than phiền về số lượng học sinh đưa đón ngày càng đông. Từ ngôi trường cấp một đến lúc xây dựng trường trung học, rồi trường mẫu giáo, mỗi ngày không dưới 300 em.
KHI mùa lũ về, dòng sông trở nên hung dữ, với chiếc ghe nhỏ, bà sợ rủi ro có thể xảy ra, lại cố gắng đi mượn hay đi mướn ghe lớn để đưa học sinh kịp giờ học và an toàn trong những ngày mưa lũ. Bà Kháng nói: "Nhờ cuộc sống dè sẻn, đôi lúc con cái giúp đỡ thêm, dì cũng nhẹ gánh về kinh tế, nên nhiều năm qua dì đưa rước thầy cô, học sinh rồi quen, vắng học sinh là dì thấy thiếu vắng cái gì buồn lắm, tụi nhỏ hay đùa giỡn, cũng vui lây cái hồn nhiên, vô tư của tụi nó". Hơn hai mươi năm trôi qua, một thời gian không dài, nhưng đã đem lại cho bà biết bao trăn trở vì con đò hư, mục. Mỗi lúc đò tới tuổi hư hỏng là bà bứt rứt, buồn bực không vui. Thấy vậy, mấy người con của bà lại bàn nhau gom góp tiền bạc, sắm cho bà chiếc ghe mới để tiếp tục đưa rước, điều may mắn là từ ngày bà đưa rước học sinh đến nay chưa có trường hợp nào đáng tiếc xảy ra.
Những lúc bà trái gió trở trời, các con bà lại thay nhau chèo đò, thầy cô, học trò mua đường sữa, thăm hỏi. Bà thấy lòng mình ấm lại, mong hết bệnh để tiếp tục đưa rước. Tháng 3-2002, bà vinh dự được chương trình Những ước mơ xanh tổ chức tại TP Hồ Chí Minh mời tham gia. Bà xúc động kể: "Từ quê nghèo của một xã vùng sâu, chuẩn bị hành trang đi Sài Gòn, bà nhà quê đen đủi, tuổi già như dì lại được đến chốn phồn hoa đô hội, xưa nay dì mơ cũng không thấy". Ở đó, dì được Ban chấp hành Trung ương Hội Khuyến học Việt Nam tặng Huy chương Vì sự nghiệp khuyến học, ngoài ra còn được tặng một bộ áo quần, cái khăn, cái nón dì cất giữ làm kỷ niệm... Ðể nhớ lại những năm tháng êm đềm thời làm nữ du kích, bà luôn trân trọng, gìn giữ Huân chương Kháng chiến hạng nhì do Nhà nước trao tặng. Năm nay, tuổi đã cao, con cái bà lại tiếp nối đưa rước học sinh sang sông và được UBND cấp tiền hằng tháng, dù chỉ là tượng trưng. Hơn hai mươi năm lấy nghề đưa rước học trò, có nhiều học trò nay đã là bác sĩ, giám đốc, kỹ sư. Dù ở đâu thì mỗi khi về quê, họ đến với bà bằng lòng biết ơn và trân trọng. Tuổi về chiều nhưng lòng bà luôn ấm áp, hàng nghìn học sinh khi nhớ về dòng sông Ðông Thuận ở quê hương, đều mang hình ảnh bà lái đò thân thương, cao quý một đời "đưa chữ sang sông".